Đừng để kháng insulin biến thành tiểu đường: Những chiến lược kiểm soát độ nhạy insulin hiệu quả
Gần đây, tỉ lệ người bị tiểu đường cũng như tỉ lệ người trẻ mắc tiểu đường càng ngày càng cao. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc đái tháo đường đã tăng gấp đôi chỉ trong một thập kỷ: từ hơn 4% dân số năm 2012 lên gần 7,3% năm 2020. Tính đến năm 2024, ước tính có khoảng 7 triệu người Việt đang sống chung với căn bệnh tiểu đường. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tiểu đường tuýp 2 là do cơ thể kháng insulin.
Insulin: Hormone giữ cho đường huyết ổn định
Insulin là hormon được tuyến tụy sản xuất với nhiệm vụ chính là giúp cơ thể hấp thụ đường (glucose) từ máu để tạo năng lượng, đồng thời điều hòa lượng đường trong máu. Nếu không có insulin, tế bào sẽ bị "đói" dù đường trong máu đang rất cao. Bên cạnh đó, khi cơ thể dư đường, insulin sẽ phát tín hiệu cho gan và cơ bắp lưu trữ đường dưới dạng glycogen. Đến khi gan và cơ bắp không còn sức chứa, insulin lại tiếp tục chuyển hoán đường dư thừa thành mỡ để dự trữ lâu dài.

Kháng insulin dẫn đến bệnh tiểu đường
Kháng insulin là hiện tượng các thụ thể (receptor) trên bề mặt tế bào trở nên "trơ" hoặc ít nhạy cảm với hormone insulin. Khi đó, dù tuyến tụy vẫn sản xuất đủ (thậm chí là dư thừa) insulin, nhưng các tế bào cơ, mô mỡ và gan không thể nhận diện được tín hiệu này để mở cửa cho đường (glucose) đi vào. Khi các cơ quan “đói” năng lượng sẽ phát ra tín hiệu để tuyến tụy tiết ra thêm nhiều insulin trong máu để “cưỡng ép” các tế bào thấp thụ đường.
Đề kháng insulin là một tình trạng phức tạp. Trong đó, cơ thể không phản ứng như bình thường với insulin. Đề kháng insulin làm tăng nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường túyp 2 - TTƯT.TS.BS. Phan Hoàng Hiệp – Giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương.
Kháng insulin không gây ra tiểu đường ngay lập tức nhờ khả năng bù trừ của cơ thể. Tuy nhiên, kháng insulin lại là con đường chính và phổ biến dẫn đến tiểu đường tuýp 2. Ở giai đoạn đầu hay còn gọi là giai đoạn bù trừ, khi tế bào kháng insulin và tuyến tụy làm việc gấp đôi gấp ba công suất để đảm bảo đường huyết ở mức bình thường nhưng nồng độ insulin luôn đạt đỉnh.

Khi bước đến giai đoạn tiền tiểu đường, tuyến tụy dần đuối sức không thể sản xuất đủ insulin để vượt qua sự kháng cự của tế bào, đường huyết bắt đầu tăng cao hơn mức bình thường. Bước vào giai đoạn tiểu đường, các tế bào beta ở tuyến tụy kiệt sức hoàn toàn và bắt đầu chết dần. Khi được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường tuýp 2, đồng nghĩa với việc tuyến tụy đã suy yếu và đường huyết luôn ở mức cao không kiểm soát.
Vì sao tế bào trong cơ thể lại đề kháng với insulin?
Ở cấp độ tế bào, kháng insulin là do lỗi tín hiệu nội bào, tích tụ mỡ nội tạng và các phản ứng viêm trong cơ thể. Cụ thể là, khi insulin gắn vào thụ thể trên bề mặt tế bào sẽ kích hoạt một chuỗi tín hiệu để mở kênh dẫn đường. Nhưng ở người kháng insulin, chuỗi tín hiệu này bị gián đoạn (thường do sự thay đổi của các protein như IRS-1), khiến thông điệp "hãy mở cửa" không truyền được vào bên trong.

Lượng mỡ thừa, đặc biệt là mỡ ở gan và cơ bắp, giải phóng các axit béo tự do. Các axit béo này gây ức chế quá trình chuyển hóa đường và làm “lờn” khả năng phản ứng của tế bào với insulin. Ngoài ra, các tế bào mỡ (đặc biệt là mỡ bụng) tiết ra các chất gây viêm (cytokine). Tình trạng viêm mãn tính mức độ thấp này "đầu độc" các thụ thể insulin, làm các tế bào mất nhạy cảm với insulin.
Ai là người dễ bị đề kháng insulin?
Một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc chứng kháng insulin hoặc tiền tiểu đường ở một số đối tượng. Theo Viện Quốc gia về bệnh tiểu đường, bệnh tiêu hóa và bệnh thận (National Institute of Diabetes and Digestive and Kidney Diseases), người thừa cân, béo phì hoặc có vòng eo lớn có nguy cơ cao bị kháng insulin. Trẻ em và thanh thiếu niên cũng có thể mắc chứng kháng insulin và tiền tiểu đường, nhưng nguy cơ này tăng lên khi tuổi tác tăng, đặc biệt là sau 35 tuổi.

Người có tiền sử gia đình mắc bệnh tiểu đường cũng có thể di truyền sang thế hệ sau. Người có tiền sử tiểu đường thai kỳ có nguy cơ cao mắc chứng kháng insulin, tiểu đường. Người mắc các bệnh hoặc tình trạng khác như hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS), hội chứng Cushing, bệnh to đầu chi, chứng ngưng thở khi ngủ hoặc các bệnh do virus như COVID-19 cũng thuộc nhóm nguy cơ cao bị kháng insulin. Việc sử dụng một số loại thuốc trong thời gian dài chẳng hạn như glucocorticoid hoặc một số thuốc chống loạn thần và một số thuốc điều trị HIV làm tăng nguy cơ kháng insulin. Không hoạt động thể chất thường xuyên cũng dễ dẫn đến việc kháng insulin. Hút thuốc lá - kể cả thuốc lá điện tử - từ trực tiếp đến thụ động dễ khiến các thụ thể tế bào không tiếp nhận insulin.
Cách phòng ngừa hoặc hạn chế tình trạng kháng insulin
Có một số nguyên nhân bất khả kháng khiến cơ thể bị kháng insulin, nhưng việc thay đổi dinh dưỡng và lối sống có thể kiểm soát được tình trạng mất nhạy cảm với insulin cũng như bệnh tiểu đường.

Đối với chế độ ăn, hãy thay thế gạo trắng, bánh mì, đường tinh luyện bằng gạo lứt, khoai lang, yến mạch, những thực phẩm giải phóng đường chậm, tránh tình trạng tăng đột biến insulin. Tăng cường ăn chất xơ hòa tan trong các loại rau củ quả để làm khỏe hệ lợi khuẩn ở đường tiêu hóa, nhờ vậy cải thiện độ nhạy insulin. Một số loại gia vị như quế có khả năng giúp tế bào bắt chước tác động của insulin, gừng và nghệ giúp kháng viêm nhờ vậy giảm được tình trạng kháng insulin ở cấp độ tế bào.
Tập luyện thể dục vừa sức mỗi ngày để thúc đẩy cơ bắp hấp thụ đường mà không cần phụ thuộc nhiều vào insulin. Đồng thời, hãy đứng dậy vận động nhẹ nhàng trong 2 phút sau mỗi 30-60 ngồi làm việc sẽ kích hoạt thụ thể insulin.

Về lối sống, hãy ngủ đủ giấc. Giấc ngủ dưới 5 tiếng có thể gây ra tình trạng kháng insulin tạm thời, tương đương với người bị tiểu đường vào sáng hôm sau. Kiểm soát căng thẳng bằng yoga, thiền định sẽ giúp giảm lượng cortisol và glucagon, hai horme làm trầm trọng hơn tình trạng kháng insulin. Một số nghiên cứu cho thấy, chế độ ăn 16:8 có thể giúp tuyến tụy nghỉ ngơi và tăng độ nhạy insulin.
Để xác định chính xác bản thân có bị kháng insulin hoặc có đang bị tiểu đường tuýp 2 hay không, bạn nên đến trung tâm y tế và thực hiện xét nghiệm máu. Chỉ số HbA1C dưới 5.6% được xem là bình thường, 5.7% đến 6.4% có thể là đang bị tiền tiểu đường và 6.5% trở lên là có dấu hiệu tiểu đường tuýp 2 do kháng insulin. Khi đã xác định mắc tiểu đường, bạn cần tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ cũng như tuân thủ chế độ dinh dưỡng, lối sống và để kiểm soát đường huyết.