Đa sắc điện ảnh Việt
Ngày 15/3/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Doanh nghiệp Quốc gia Chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam, đặt nền móng cho nền điện ảnh cách mạng còn non trẻ của nước ta. Từ những thước phim đầu tiên của “Chung một dòng sông” năm 1959 đến giai đoạn đổi mới và bùng nổ điện ảnh tư nhân sau thập niên 1990, điện ảnh Việt Nam đã đi qua một hành trình dài để định hình bản sắc và tiếng nói riêng.
Trong dòng chảy ấy, các nữ đạo diễn dẫu ít ỏi nhưng luôn để lại dấu ấn đặc biệt. Từ những tên tuổi đặt nền móng như Bạch Diệp, Đức Hoàn đến Việt Linh, Nhuệ Giang và đến thế hệ hiện nay. Nếu các đạo diễn thời chiến thường tập trung khắc họa hình tượng người phụ nữ trong kháng chiến và hậu phương với vẻ đẹp của sự hy sinh, kiên cường và bền bỉ, thì thế hệ sau đổi mới lại mở rộng biên độ chủ đề, đưa lên màn ảnh những thân phận cá nhân, những khủng hoảng nội tâm và các góc nhìn vượt ra khỏi khuôn mẫu truyền thống.
Hơn 70 năm sau ngày nền điện ảnh cách mạng ra đời, điện ảnh Việt Nam hôm nay đang bước vào một giai đoạn nhiều chuyển động. Từ các liên hoan phim quốc tế đến đời sống điện ảnh trong nước, phim Việt không chỉ trưởng thành về kỹ thuật hay ngôn ngữ kể chuyện, mà còn cho thấy sự hiện diện ngày một rõ nét của những tiếng nói cá nhân.
Nguyễn Hoàng Điệp
Nguyễn Hoàng Điệp thuộc lớp đạo diễn trưởng thành cùng làn sóng điện ảnh độc lập Việt Nam những năm 2010. Bộ phim Đập cánh giữa không trung ra mắt năm 2014 đã xác lập dấu ấn rõ rệt của chị trên bản đồ điện ảnh quốc tế. Tác phẩm dự thi tại hạng mục Settimana Della Critica (Tuần lễ Phê bình) của Liên hoan phim quốc tế Venice và giành giải FEDEORA cho Phim xuất sắc nhất, đồng thời tiếp tục tranh giải ở nhiều liên hoan phim lớn và mang về cho Nguyễn Hoàng Điệp giải Đạo diễn xuất sắc nhất tại Bratislava.
Cá tính điện ảnh của Nguyễn Hoàng Điệp bộc lộ rõ trong cách chị nhìn nhân vật nữ và những con người bên lề xã hội. Nhân vật Linh trong Đập cánh giữa không trung do Thanh Duy thủ vai hiện lên bằng tất cả tổn thương rất người. Linh khao khát được sống đúng với bản dạng của mình, đồng thời phải giằng co giữa mặc cảm, tình yêu và sự cô độc. Có những phân đoạn nhân vật chỉ diễn bằng ánh mắt, hơi thở và cảm giác đau đớn âm ỉ chạy xuyên suốt khung hình. Bộ phim vì thế trở thành một lát cắt nhức buốt về một thế hệ đang loay hoay tìm chỗ đứng cho bản dạng của mình trong xã hội hiện đại.
Điện ảnh của Nguyễn Hoàng Điệp cũng giống như cách chị làm nghề, cứ lẳng lặng, thân tình. Từ vai trò đạo diễn, người thầy đến người đồng hành trong nhiều dự án nghệ thuật, chị luôn tạo cảm giác gần gũi thay vì đặt cái tôi sáng tạo lên trước. Có lẽ vì vậy mà trong các dự án của mình, Nguyễn Hoàng Điệp thường giữ tinh thần đối thoại với cộng sự hơn là đặt cái tôi lên trước. Với chị, nghệ thuật không chỉ cần nhiệt huyết mà còn cần tài năng thật sự để nâng đỡ ý tưởng đến tận cùng.
Ngoài vai trò đạo diễn, Nguyễn Hoàng Điệp còn là một trong những gương mặt kết nối và hỗ trợ cho điện ảnh độc lập Việt Nam. Chị là nhà sản xuất của Bi, đừng sợ! của Phan Đăng Di - tác phẩm từng dự thi tại Tuần lễ Phê bình Cannes và giành hai giải thưởng quốc tế năm 2010. Sau đó, chị tiếp tục tham gia với vai trò đồng sản xuất của Ròm của Trần Thanh Huy hay sản xuất điều hành cho Kfc của Lê Bình Giang, đồng thời mở rộng thực hành nghệ thuật sang sân khấu với không gian văn hóa sáng tạo Ơ Kìa Hà Nội. Vở Hồn Trương Ba, da hàng thịt do chị hợp tác cùng đạo diễn Nhật Bản Tsuyoshi Sugiyama từng giành nhiều giải thưởng tại Liên hoan Kịch nói toàn quốc 2024.
Đọc thêm: Từ Michelle Yeoh đến Amy Madigan: Những đoá hoa “nở muộn” của điện ảnh thế giới
Dương Diệu Linh
Thuộc thế hệ đạo diễn nữ trẻ, Dương Diệu Linh bước ra thế giới bằng thứ ngôn ngữ vừa bản địa vừa siêu thực. Khán giả biết đến cô nhiều hơn sau thành công của Mưa Trên Cánh Bướm với cú đúp giải thưởng tại Liên hoan phim Venice. Nhưng hành trình điện ảnh của nữ đạo diễn thực chất đã bắt đầu từ năm 2013 qua loạt phim ngắn đầu tay. Trong các tác phẩm của mình, Diệu Linh thường xoáy sâu vào đề tài gia đình, đặc biệt là những người phụ nữ mắc kẹt giữa đời sống hôn nhân, tình yêu và những tổn thương âm ỉ khó gọi thành tên. Thế giới ấy hiện lên qua những lớp tâm linh, thần thoại và siêu hình len lỏi vào từng khung hình.
Ngôn ngữ hình ảnh nhuốm màu siêu hình của cô bắt đầu lộ rõ từ những phim ngắn đầu tay thực hiện khi còn học tại Singapore. Kitsu-ne (2013), bộ phim dài chỉ vài phút về hình tượng hồ ly tinh chín đuôi đã cho thấy mối quan tâm của chị với thế giới thần thoại và những biến đổi nhập nhằng giữa dục tính, cái đẹp và sự chết chóc. Những phim ngắn sau đó như Người Lớn Không Nói Xin Lỗi (2016); Mẹ, Con Gái, Và Những Giấc Mơ (2018) hay Ngọt, Mặn (2019) tiếp tục hoàn thiện thế giới điện ảnh rất riêng của Dương Diệu Linh. Người phụ nữ trong phim cô thường cằn nhằn, nóng nảy, đôi khi gai góc đến cay nghiệt. Họ đi tìm tình yêu, đi tìm sự công nhận, cố lấp đầy những khoảng trống mà hôn nhân và gia đình để lại bằng một bản thể thô ráp, dữ dội. Nhưng phía sau tất cả vẫn là một mong muốn giản dị được lắng nghe và thấu hiểu.
Có lẽ để diễn đạt những tổn thương ấy theo cách phù hợp hơn với lối kể chuyện giàu tính siêu thực của mình, nữ đạo diễn thường cài cắm vào phim những chi tiết vừa hài hước vừa chua xót. Chính cô từng chia sẻ rằng mình không muốn làm những bộ phim chỉ để phụ nữ than vãn về cuộc đời, mà muốn khán giả “cười rất nhiều rồi rời rạp với cảm giác chua xót”. Chất hài trong phim Dương Diệu Linh vì thế trở thành cách làm nổi bật hơn những nỗi niềm hiếm khi được lên tiếng của phụ nữ trung niên trong đời sống thường nhật.
Hà Lệ Diễm
Hà Lệ Diễm là nhà làm phim tài liệu độc lập trưởng thành cùng làn sóng điện ảnh kỹ thuật số tại Việt Nam. Nếu nhìn từ lịch sử phát triển của phim tài liệu độc lập, đây vẫn là một dòng chảy còn khá trẻ. Chỉ từ đầu thế kỷ 21, khi cuộc cách mạng máy quay kỹ thuật số và các phần mềm dựng phim giá rẻ mở ra làn sóng làm phim độc lập trên toàn cầu, điện ảnh độc lập tại Việt Nam mới dần hình thành rõ nét hơn. Trong dòng chảy ấy, Hà Lệ Diễm nổi bật như một tiếng nói riêng của thế hệ làm phim tài liệu mới. Sinh ra trong một gia đình người Tày ở vùng núi Đông Bắc, Hà Lệ Diễm mang sẵn sợi dây gắn bó với vùng cao như một phần bản năng.
Xuất phát điểm từ “ngòi viết” báo chí, Hà Lệ Diễm sớm nhận ra điện ảnh mới là ngôn ngữ phù hợp nhất để cô đối thoại với những đề tài mình quan tâm. Sau đó, cô theo học làm phim tài liệu tại TPD và dần xây dựng phong cách điện ảnh gắn liền với những câu chuyện vùng cao. Sau đó, Diễm thực hiện phim tài liệu ngắn đầu tay Con đi trường học vào năm 2011, kể về một người mẹ nhiễm HIV ở Bắc Kạn vẫn lạc quan nuôi con giữa nhiều định kiến xã hội. Sau ba tháng thực hiện, bộ phim hoàn thành và giành giải Cánh diều bạc của Hội Điện ảnh Việt Nam năm 2013. Ba năm sau, cô tham gia Trại sáng tác phim tài liệu Varan Vietnam và từ đó bắt đầu định hình rõ ràng hơn con đường làm nghề của mình.
Đến năm 2017, trong một chuyến đi Sa Pa, Diễm gặp Di - cô bé người Mông sinh năm 2004 đang vô tư nô đùa cùng bạn bè giữa núi rừng. Từ sự tò mò rất tự nhiên về việc Di sẽ lớn lên như thế nào, Những đứa trẻ trong sương dần được hình thành, bộ phim đã đưa tên tuổi Hà Lệ Diễm đến gần hơn với khán giả trong và ngoài nước sau này. Nữ đạo diễn trẻ cùng chiếc máy quay đã đồng hành với Di suốt bốn năm ở Hà Giang, từ khi cô bé còn là một đứa trẻ cho đến lúc chạm ngõ hôn nhân. Bộ phim đi chậm như nhịp sống miền núi, để máy quay lặng lẽ ở cạnh nhân vật đủ lâu cho những nếp sống vùng cao tự bộc lộ theo cách tự nhiên nhất.
Có lẽ đó cũng là cái thú rất riêng của phim tài liệu. Làm phim vốn luôn là một hành trình dài hơi, nhưng với tác phẩm này, ranh giới giữa dự án và đời sống dường như dần biến mất. Hà Lệ Diễm đã sống, sinh hoạt, trò chuyện và tạo nên kết nối thật sự với Di cũng như những người dân trong bản. Chính vì thế, cảm giác xem phim nhiều lúc trở nên vô hình, như thể chiếc máy quay chưa từng hiện diện. Qua góc nhìn của đạo diễn, mọi thứ hiện lên nguyên vẹn, gần như không sắp đặt hay tô vẽ, giản dị như chính đời sống miền núi vốn có.