TÀI TRỢ
Đăng Nhập
TÀI TRỢ

Những người phụ nữ góp phần làm nên mùa Thu độc lập

Có những người phụ nữ “phấn son tô điểm sơn hà”, bước vào dòng thác cách mạng, đem tuổi trẻ, lòng can đảm và trí tuệ góp vào vận mệnh non sông.

Trong mùa Thu năm 1945, từ những ngày Tổng khởi nghĩa đến thời khắc đất nước tuyên bố độc lập, bóng dáng những người phụ nữ hiện diện ở nhiều nơi, trong nhiều vai trò và những thời khắc đáng nhớ của lịch sử dân tộc. Họ như những ngọn lửa nhỏ âm thầm, bền bỉ, mỗi người góp một đốm sáng vào những ngày tháng sục sôi của cả dân tộc.


Những đôi tay may lá cờ Tổ quốc


Trước Cách mạng Tháng Tám, khi lá cờ đỏ sao vàng vẫn còn phải được may trong bí mật, những người phụ nữ Hà Nội đã âm thầm may cờ, băng rôn, khẩu hiệu phục vụ Tổng khởi nghĩa. Trong đó có bà Nguyễn Thị Bích Thảo (sinh năm 1925), cùng hai chị em ruột âm thầm may cờ, băng rôn, khẩu hiệu phục vụ Tổng khởi nghĩa tại một cơ sở cách mạng ở phố Đồng Xuân. Sau này, ba chị em bà Thảo cùng ba người chồng chính là sáu cảm tử quân đã tham gia chiến đấu trong “60 ngày đêm khói lửa” và tham gia “cuộc rút quân thần kỳ” ra khỏi Hà Nội để rồi cùng với “lớp lớp đoàn quân tiến về” thủ đô giải phóng (10/10/1954).


Hinh anh Những người phụ nữ góp phần làm nên mùa Thu độc lập 1
Ảnh chân dung gia đình của bà Nguyễn Thị Bích Thảo (trái) và bà Nguyễn Thị Bích Thuận - Ảnh: Sưu tầm


Cũng trong những ngày ấy, Đại tá Nguyễn Thị Bích Thuận mới 23 tuổi, được giao may một lá cờ để treo trên đỉnh Tháp Rùa. Giữa lúc quân Nhật kiểm soát gắt gao, vải đỏ, vải vàng không dễ tìm. Sau nhiều đêm trăn trở, bà cắt một phần tấm vải đỏ phủ trên bàn thờ gia tiên để may cờ, rồi tìm vải vàng làm ngôi sao. Lá cờ nhỏ khoảng 40x50 cm được bí mật đưa lên đỉnh Tháp Rùa, tung bay giữa hồ Hoàn Kiếm trong sự canh phòng của quân Nhật. Ngày 2/9/1945, bà Thuận lại hòa vào đoàn Phụ nữ Cứu quốc tiến về Quảng trường Ba Đình, chứng kiến lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong ngày đất nước tuyên bố độc lập.


Cô giao thông viên và hành trình đưa mật thư vào Nam


Tháng 8/1945, một trong những nhiệm vụ cấp thiết của cách mạng là nối lại mạch liên lạc giữa Trung ương Đảng và miền Nam. Một trong những người nhận nhiệm vụ ấy là nữ giao thông viên Nguyễn Thị Kỳ (tên thật là Cái Thị Nam), khi ấy mới 22 tuổi.

Cùng với liệt sĩ Lý Chính Thắng, bà lên đường trong vai một đôi vợ chồng. Cô gái Hà Nội khoác áo dài lụa, tóc chải bồng, môi đỏ, má hồng, đeo trang sức giả để ngụy trang thành một tiểu thư khuê các xứ kinh kỳ. Dưới đáy chiếc vali bà mang theo là thư từ, tài liệu của Trung ương.


Hinh anh Những người phụ nữ góp phần làm nên mùa Thu độc lập 2
Bà Nguyễn Thị Kỳ và chồng là Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ảnh: Sưu tầm


Thế nhưng, hành trình ấy không hề dễ dàng. Đường sá bị kiểm soát, phương tiện liên lạc hạn chế, trong khi quân địch tìm cách ngăn chặn mọi hoạt động của lực lượng cách mạng. Trên đường đi, bà Kỳ bị lính Nhật bắt và đưa vào sở hiến binh ở Đà Nẵng. Trong tình thế nguy cấp, bà kịp trao chiếc vali hai đáy cho người đồng hành rồi tìm cách thoát ra. Hai người tiếp tục vượt qua những chặng đường đầy hiểm nguy. Đến Phan Rí (thuộc tỉnh Bình Thuận cũ), khi xe không còn chuyến, họ đi bộ rồi lại tìm cách đi nhờ vào Sài Gòn. Cuối cùng, tài liệu được trao đến cơ sở cách mạng. Mạch liên lạc giữa Trung ương và Nam Bộ, từng đứt đoạn hơn bốn năm, được nối lại.

Đến ngày 25/8/1945, cô gái 22 tuổi hòa vào dòng người Sài Gòn xuống đường giành chính quyền.


Lời hẹn dưới cây đa Tân Trào


Sinh ra trong một gia đình quan lại ở Hà Nội, từng sống trong nhung lụa nhưng bà Nguyễn Thị Khánh Thuận, tức Thanh Thủy, đã sớm lựa chọn con đường cách mạng. Ngày 16/8/1945, bà cùng chồng là ông Dương Đức Hiền, Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Đông Dương, tham dự Quốc dân Đại hội Tân Trào, đại diện cho Đảng Dân chủ Việt Nam.


Hinh anh Những người phụ nữ góp phần làm nên mùa Thu độc lập 3
Bà Thanh Thủy và ông Dương Đức Hiền là cặp vợ chồng duy nhất tham dự Quốc dân Đại hội Tân Trào - Ảnh: Sưu tầm


Cũng trong ngày ấy, tại lễ xuất phát của Đoàn Quân giải phóng lên đường đánh Thái Nguyên, bà thay mặt các đại biểu nữ nói lời tiễn đoàn quân. Dưới bóng cây đa Tân Trào, giữa những ngày đất nước đứng trước giờ phút chuyển mình, bà nghẹn lời: “Các đồng chí tiến lên, giải phóng Thái Nguyên rồi tiến thẳng về Hà Nội. Hẹn gặp nhau giữa Thủ đô hoàn toàn độc lập!”.

Lời hẹn ấy chỉ ít ngày sau đã thành hiện thực. Sau Đại hội Tân Trào, bà về công tác tại báo Cứu quốc, phụ trách trang Phụ nữ, rồi tiếp tục làm báo Tiếng gọi phụ nữ.


“Bà tướng Việt Minh” giữa vùng Yên Thế


Ở chùa Nam Thiên, thị trấn Nhã Nam (Tân Yên, Bắc Giang cũ), tấm bia khắc hai câu “Yên Thế lừng danh Hà Thị Quế/Nhã Nam bất khuất đất anh hùng” vẫn nhắc về một người phụ nữ từng khiến quân Pháp nhiều phen “khiếp vía”. Đó là bà Hà Thị Quế, người được gọi bằng cái tên đầy nể trọng “bà tướng Việt Minh” vùng Yên Thế.

Bà Hà Thị Quế (1921 - 2012), tên thật Lương Thị Hồng, sinh trong một gia đình có truyền thống cách mạng ở tỉnh Ninh Bình cũ, là hậu duệ đời thứ 21 của Trạng nguyên, nhà toán học Lương Thế Vinh. Bố, mẹ, chú ruột đều là những đảng viên cộng sản đầu tiên của Ninh Bình.

Mới 14 - 15 tuổi, bà đã làm liên lạc, chuyển thư cho cán bộ Xứ ủy Bắc Kỳ. Năm 17 tuổi, bà trở thành Bí thư Đoàn Thanh niên Phản đế, rồi Bí thư Hội Phụ nữ Phản đế và sau đó là bí thư của Hội Phụ nữ Cứu quốc xã. 20 tuổi, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và bước vào con đường của một nhà hoạt động cách mạng.


Hinh anh Những người phụ nữ góp phần làm nên mùa Thu độc lập 4
Chân dung “bà tướng Việt Minh” Hà Thị Quế - Ảnh: Sưu tầm


Những năm hoạt động bí mật đưa bà Hà Thị Quế đến vùng Yên Thế, Việt Yên và một phần Lạng Giang, nơi bà phụ trách công tác quân sự. Sự táo bạo, mưu lược khiến quân Pháp và Việt gian đặt cho bà cái tên “nữ tướng Việt Minh”. Người dân ở Bắc Giang còn có câu nói truyền miệng về huyền thoại về bà Quế: “Đây là ‘người đàn bà nhà Giời’ nên rất giỏi, nhảy qua nóc nhà, phi ngựa như bay, hai tay hai súng bắn trăm phát trăm trúng”.

Tháng 8/1945, bà Quế là nữ đại biểu duy nhất của Bắc Giang được cử đi dự Quốc dân Đại hội Tân Trào. Trở về từ cuộc họp lịch sử, bà cùng lực lượng cách mạng địa phương khẩn trương chuẩn bị cho thời khắc giành chính quyền.

Đến ngày 18/8/1945, cùng Ban lãnh đạo cách mạng tỉnh Bắc Giang, bà trực tiếp tổ chức khởi nghĩa, giành chính quyền tại phủ Lạng Thương. Sau này, trong hồi ký, bà nhớ lại: “Tôi là người trực tiếp tổ chức khởi nghĩa và giành chính quyền ở Yên Thế”.


Những người phụ nữ ở hàng đầu cuộc khởi nghĩa


Cách mạng Tháng Tám không chỉ diễn ra trên những con phố Hà Nội. Từ Bắc chí Nam, nhiều phụ nữ đã trực tiếp đứng trong đội hình khởi nghĩa, dẫn dắt quần chúng giành chính quyền.

Tại Bến Tre, bà Nguyễn Thị Định cầm cờ dẫn đầu hàng nghìn người, phần đông là phụ nữ, tay dao, tay gậy, cùng cờ và biểu ngữ đỏ rực tiến vào chiếm thị xã. Hình ảnh ấy trở thành một biểu tượng về sức mạnh của phụ nữ trong Tổng khởi nghĩa.


Hinh anh Những người phụ nữ góp phần làm nên mùa Thu độc lập 5
Những người phụ nữ Việt Nam kiên trung, anh dũng trong những năm tháng kháng chiến Ảnh: Sưu tầm


Ở Hoài Đức (Hà Đông), bà Trương Thị Mỹ tham gia lãnh đạo lực lượng khởi nghĩa giành chính quyền. Tại Hội An, bà Phan Thị Nể giữ vai trò Phó ban Chỉ huy khởi nghĩa. Ở Sa Đéc, bà Trần Thị Nhường (Sáu Ngài) trực tiếp lãnh đạo lực lượng giành chính quyền. Tại Hải Dương, bà Ngô Thị Sâm chỉ đạo khởi nghĩa ở Cẩm Giàng, bà Bùi Thị Phương Diệm lãnh đạo giành chính quyền ở Ninh Giang. Còn tại Sơn Tây, bà Nguyễn Thị Hảo (Minh Nhã) được giao tổ chức khởi nghĩa ở Quốc Oai ngày 16/8/1945.

Cùng với đó là sự đóng góp không nhỏ của những người con gái Mỹ Tho như chị Phạm Ngọc Trang, chị Hai Quý, chị Trần Ngọc Thơ (tức Hồng Liên) và phụ nữ dân tộc Khmer, Hoa ở khắp các tỉnh Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cà Mau đều tích cực tham gia lực lượng Cách mạng.


Hai tiếng nói giữa quảng trường Nhà hát Lớn


Những ngày giữa tháng 8/1945, Hà Nội ở trong thời khắc đặc biệt căng thẳng. Nhật đã đầu hàng Đồng minh, chính quyền Trần Trọng Kim tìm cách củng cố tinh thần và tổ chức một cuộc mít tinh của Tổng hội Viên chức tại Quảng trường Nhà hát Lớn (nay là Quảng trường Cách mạng Tháng Tám) vào chiều 17/8. Thế nhưng, cuộc mít tinh nhanh chóng nằm ngoài sự kiểm soát của ban tổ chức khi lực lượng cách mạng biến nó thành cuộc biểu dương lực lượng, kêu gọi quần chúng đứng lên giành chính quyền.

Giữa hàng vạn người có mặt tại quảng trường, hai cô gái trẻ lần lượt bước lên bục diễn đàn. Đó là cô gái 17 tuổi Trang Anh (tên thật là Từ Ngọc Trang), thành viên Đội Cứu quốc thành Hoàng Diệu, và cô gái xứ Huế Nguyễn Khoa Diệu Hồng, đội viên Đội Tuyên truyền xung phong của Đảng Dân chủ.


Hinh anh Những người phụ nữ góp phần làm nên mùa Thu độc lập 6
Nhân dân Hà Nội có mặt tại buổi mít tinh chiều 17/8/1945 - Ảnh: Sưu tầm


Bà Trang Anh, được lựa chọn làm nữ diễn giả của lực lượng thanh niên Thủ đô. Khi cuộc mít tinh vừa bắt đầu, lực lượng cách mạng giành micro và trao cho cô gái 17 tuổi. Trong ít phút, cô thông báo chính quyền thân Nhật đã tan rã, kêu gọi đồng bào ủng hộ Việt Minh và đứng lên Tổng khởi nghĩa giành độc lập.

Tiếp đó, trong tà áo dài tím, người con gái xứ Huế Nguyễn Khoa Diệu Hồng cất tiếng hiệu triệu: “Nhật đã đầu hàng Đồng minh. Thời cơ thuận lợi đã đến, đồng bào hãy ủng hộ Việt Minh đấu tranh giành độc lập cho Tổ quốc”.

Những lá cờ đỏ sao vàng lập tức xuất hiện giữa quảng trường. Dòng người từ Nhà hát Lớn tỏa xuống các đường phố, biến cuộc mít tinh thành cuộc tuần hành thị uy của lực lượng cách mạng. Chỉ hai ngày sau, Hà Nội vùng lên giành chính quyền.


Đôi tay nâng lá cờ đỏ sao vàng


Ngày 2/9/1945, giữa hàng vạn người dân Hà Nội có mặt tại Quảng trường Ba Đình dự lễ Độc lập, hai người phụ nữ được giao một vinh dự đặc biệt: kéo lá quốc kỳ đỏ sao vàng lên kỳ đài trong giờ phút khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Một người là bà Lê Thi (tên thật là Dương Thị Thoa), con gái Giáo sư Dương Quảng Hàm, nữ trí thức yêu nước ở Hà Nội, tham gia hoạt động cách mạng từ khi còn trẻ. Ngày 2/9 năm ấy, bà hòa trong đoàn Phụ nữ Cứu quốc Hà Nội. Khi Ban tổ chức chọn người kéo cờ, những người ở hàng đầu lập tức gọi tên bà. Bất ngờ trước vinh dự lớn lao, bà bật khóc rồi nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, bước lên kỳ đài. Người đứng cùng bà là bà Đàm Thị Loan, cô gái Tày quê Cao Bằng, khi ấy là nữ đội viên du kích.

Theo lời kể của ông Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác Hồ, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn việc kéo cờ có sự hiện diện của những phụ nữ tiêu biểu, để ngày Độc lập thêm ý nghĩa.


Hinh anh Những người phụ nữ góp phần làm nên mùa Thu độc lập 7
Chân dung hai cô gái kéo cờ trong lễ Độc lập năm 1945 - Ảnh: Sưu tầm


Buổi chiều hôm ấy, bà Đàm Thị Loan, đại diện cho phụ nữ các dân tộc thiểu số, trong bộ quân phục giản dị với chiếc ca lô lệch, áo nâu, quần thâm đĩnh đạc từ hàng quân nữ tự vệ tiến về phía lễ đài. Cạnh bậc lên lễ đài, cô nữ sinh Hà Nội Lê Thi trong tà áo dài trắng đã đứng đợi. Theo phân công, bà Loan, người thấp hơn, cầm dây kéo cờ, bà Thi cao hơn nâng lá quốc kỳ. Hai người cùng chung tay đưa lá cờ đỏ sao vàng lên kỳ đài. Một nữ trí thức Hà Nội và một nữ chiến sĩ người Tày, hai con đường khác nhau nhưng cùng gặp nhau dưới lá cờ của ngày Độc lập.

Từ những mảnh vải được may trong bí mật, chiếc vali hai đáy vượt qua những trạm kiểm soát, lời hẹn dưới bóng đa Tân Trào, những đoàn người xuống phố đến đôi tay nâng lá cờ trên Quảng trường Ba Đình, mùa Thu 1945 hiện lên qua câu chuyện của những người phụ nữ ở nhiều vị trí khác nhau. Có người may cờ, có người mang mật thư, có người nói lời hiệu triệu, có người trực tiếp giành chính quyền và cũng có người đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng trong giờ phút đất nước tuyên bố độc lập.


TÀI TRỢ
TÀI TRỢ