Hoa mẫu đơn kiều diễm trong tranh kính màu của John La Farge
Hoa mẫu đơn vốn là biểu tượng của sự thịnh vượng, quyền lực và danh vọng trong văn hóa Nhật Bản. Từ thế kỷ 8, loài hoa này đã lọt vào tầm ngắm của những nghệ sĩ và nhà thơ Nhật vốn muốn dùng một hình ảnh thiên nhiên để ẩn dụ cho tính trang nhã và xa hoa của tầng lớp quý tộc. Từ thế kỷ 17, người ta thường bắt gặp những tranh khắc gỗ (ukiyo-e) với biểu tượng hoa mẫu đơn quý phái và các bức tranh cuộn khắc họa hình ảnh hoa mẫu đơn đầy thanh thoát. Có thể nói, series kính màu của John La Farge cũng được khơi dậy nguồn cảm hứng từ đây. Tuy nhiên, cách tiếp cận chất liệu, văn hóa Tây phương cùng kinh nghiệm lẫn trải nghiệm nghệ thuật đầy khác biệt đã mang đến cho loạt sáng tác này của La Farge trở thành di sản độc đáo trong thế giới nghệ thuật.

Cuộc cách mạng tranh kính màu ánh ngọc
John La Farge (1835-1910) đã thực hiện ít nhất 7 tác phẩm cửa sổ kính màu hoa mẫu đơn từ năm 1880 đến năm 1909. Tác phẩm đầu tiên mang tên Peonies Blown in the Wind, khắc họa những bông hoa mẫu đơn duyên dáng lay động trong làn gió thoảng.
Tham vọng của John La Farge là mang đến cho thế giới hiện đại một di sản có thể sánh ngang với những cửa sổ kính màu tại Nhà thờ Đức bà Reims được xây dựng từ thời Trung cổ. Tuy nhiên, thay vì dựa vào mô hình của tiền nhân, ông đã tìm thấy nguồn cảm hứng từ nghệ thuật Nhật Bản mà bản thân đã ngưỡng mộ bấy lâu, để phát triển dòng tranh kính màu đề cao vẻ đẹp trữ tình, uyển chuyển trong một bố cục như từng có. Niềm đam mê trang trí nội thất - kiến trúc cũng phần nào thúc đẩy La Farge nghiên cứu kính màu trong lịch sử, làm tiền đề để ông phát minh ra loại kính màu ánh ngọc (opalescent glass) vào năm 1879 và được cấp bằng sáng chế vào năm 1880. Sự kiện này đã dấy nên một cuộc cách mạng lớn trong ngành nghệ thuật kính màu tại Mỹ và trên toàn thế giới.
Ông đã ứng dụng kính màu ánh ngọc vào hầu hết các tác phẩm kính màu đỉnh cao xuyên suốt sự nghiệp của mình. Nhờ vào loại kính đặc biệt này, cùng kỹ thuật ghép nhiều lớp kính, tác phẩm có thể đạt chiều sâu không gian mà không cần sơn vẽ. Có nghĩa, toàn bộ màu sắc, sắc độ cũng như chiều sâu của bức tranh đều được sáng tạo trực tiếp từ chính bản thân các miếng kính màu. Trong tác phẩm đầu tiên, La Farge cố tình dùng những miếng kính có nếp nhăn, gợn sóng hoặc bong bóng khí nhằm mô tả kết cấu của cánh hoa và chiếc lá đang đung đưa khẽ khàng trong gió theo một cung cách tự nhiên và uyển chuyển nhất có thể.
Nếu trong kính màu truyền thống, người nghệ sĩ phải cắt các miếng kính màu phẳng, sau đó dùng sơn đen, nâu… để vẽ các chi tiết rồi đem nung lại, thì bản thân miếng kính của La Farge đã mang sẵn linh hồn lẫn họa tiết của bức tranh. Ông chỉ cần dùng các dải chì (lead cames) để kết nối chúng lại với nhau như một bức tranh ghép mảnh (mosaic). Từng cánh hoa mẫu đơn mềm mại được La Farge điêu khắc bằng cách thay đổi độ dày mỏng và độ mờ đục của kính ánh ngọc. Kính trắng sữa pha sắc hồng, đỏ khiến cánh hoa như đang rung rinh và bắt sáng một cách huyền ảo thần kỳ dưới ánh nắng mặt trời.

Cảm hứng từ nghệ thuật Đông phương
Vào năm 1882, La Farge hoàn thành hai tác phẩm “Peacocks and Peonies” (Chim công và hoa mẫu đơn I) và “Peacocks and Peonies II” (Chim công và hoa mẫu đơn II) cho một dinh thự tại Boston của ông trùm đường sắt Frederick Lothrop Ames. Về bố mục, ông đã lấy cảm hứng từ nhiều nền văn hóa, trong đó họa tiết chim và hoa gợi nhớ đến những bức bình phong của Trung Hoa và Nhật Bản. Các tấm phía dưới mô phỏng kiến trúc Pompeii, còn ô thoáng phía trên khiến người ta liên tưởng đến vòm bán nguyệt nơi cửa ra vào của một nhà thờ La Mã.
Quan sát gần hơn nữa, bạn có thể thấy lông đuôi chim công được cấu thành từ những mảnh thủy tinh nhỏ bằng kỹ thuật viên ngọc vỡ. Trong khi đó, mỗi bông hoa mẫu đơn lại là khối thủy tinh nguyên bản được đúc đặc biệt nhằm tạo ra hiệu ứng thị giác khác nhau thuận theo sự thay đổi của ánh sáng tự nhiên. Bộ đôi tác phẩm này không chỉ tôn vinh kỹ thuật kính màu đột phá mà còn cho thấy tầm ảnh hưởng sâu sắc của nghệ thuật Đông phương với phương Tây lúc bấy giờ. Hai tác phẩm đang được lưu giữ tại Bảo tàng Nghệ thuật Mỹ Smithsonian (Smithsonian American Art Museum).

Dù đây là thời kỳ mà cuộc cách mạng công nghiệp đang không ngừng tạo ra những sản phẩm thủy tinh hàng loạt giá rẻ, nhưng những bức tranh kính nghệ thuật của La Farge đã minh chứng cho niềm đam mê không mảy may lay chuyển đối với gu thẩm mỹ tinh tế và nghề thủ công đỉnh cao. Mỗi tác phẩm kính màu được La Farge hoàn thiện vô cùng cầu kỳ, tỉ mỉ và duy mỹ. Sự tinh xảo trong việc chọn lựa và cắt ghép thủy tinh cho phép ông khắc họa những biểu tượng trong tranh đầy sống động, mềm mại và giàu chất thơ. Ví như, trong cặp tác phẩm “Chim công và hoa mẫu đơn”, việc kiên nhẫn chọn, mài đẽo và sắp xếp hàng trăm chi tiết thủy tinh li ti đòi hỏi thời gian và “công phu” vượt bậc.

Cùng năm 1882, La Farge đã tạo ra một bức tranh kính màu hoa mẫu đơn khác mang tên “Flowering Cherry Tree and Peony” (Cây anh đào nở hoa và hoa mẫu đơn) cho gia đình ông trùm Ames, hiện nằm trong bộ sưu tập của Bảo tàng Nghệ thuật Saint Louis. Có thể nói, đây là tác phẩm mang ảnh hưởng đậm nét của nghệ thuật Nhật Bản. Bố cục tranh bất đối xứng độc đáo, gây ấn tượng đầu tiên với những họa tiết hoa cỏ uốn lượn u tịch. Biểu tượng hoa anh đào thánh khiết song hành hoa mẫu đơn vương giả, tạo nên một tổng thể hài hòa, cuốn hút và tự nhiên. Sáng tạo này của La Farge càng minh chứng rõ nét cho làn sóng đam mê nghệ thuật Nhật Bản của Tây phương vào cuối thế kỷ 19.

Tuyệt tác về chuyển động trong tĩnh lặng
Vào năm 1889, John La Farge đã trưng bày bức kính màu nổi tiếng “Peonies Blown in the Wind” (Những hoa mẫu đơn bay trong gió) tại Triển lãm Thế giới Paris và nhận Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh (Légion d’Honneur) từ chính phủ Pháp. Các nhà nghiên cứu và phê bình nghệ thuật nhận định chuỗi tác phẩm kính màu hoa mẫu đơn của ông không chỉ là sự hòa quyện tuyệt vời giữa mỹ học Đông phương và kỹ thuật chế tác phương Tây, mà còn là cột mốc khẳng định vị thế độc tôn của người nghệ sĩ này trong lĩnh vực kính màu vào thế kỷ 19.
Những chuyên gia tại Bảo tàng Mỹ thuật Metropolitan (Met Museum) nhận xét rằng tài năng của La Farge thể hiện ở chỗ bắt trọn vẻ đẹp sống động và linh hoạt của thiên nhiên. Khi chiêm ngưỡng tác phẩm “Peonies Blown in the Wind”, người ta có cảm tưởng một làn gió nhẹ lướt thoáng qua khiến những cánh hoa như đang rung rinh thực sự. Tinh thần thiền tông “động trong tĩnh” cũng được La Farge học hỏi hết sức tinh tế và thấu đáo. Từ đó giúp ông biến một tác phẩm hoàn toàn đứng yên về mặt vật lý mang đến “ảo giác” về sự rung động và phản chiếu lấp lánh. Không chỉ dừng lại ở đó, với nguồn cảm hứng từ tranh khắc gỗ (ukiyo-e), ông đồng thời thẩm thấu triết lý Á Đông, ghi lại khoảnh khắc mong manh ngắn ngủi của cái đẹp nhưng để lại dấu ấn ký ức khó quên qua năm tháng.
Đối với giới sưu tập và các nhà phê bình kiến trúc, cửa sổ kính màu hoa mẫu đơn của John La Farge đã đạt đến đỉnh cao trong phong cách nội thất vào Thời kỳ Mạ Vàng (The Gilded Age) diễn ra khoảng năm 1870 -1900. Vẻ đẹp sang trọng ấy không nằm ở tính phô trương mà thể hiện tinh tế qua ánh sáng huyền ảo, riêng tư và chiều sâu tâm hồn mà loài hoa mẫu đơn kiều diễm, thanh khiết thổi vào không gian sống.
Ảnh thumb: Một chi tiết từ tác phẩm “Chim công và hoa mẫu đơn I,” năm 1882.